ỨNG DỤNG LECITHIN TRONG ỔN ĐỊNH NHŨ TƯƠNG VÀ HỆ DẪN TRUYỀN TIÊN TIẾN TRONG MỸ PHẨM

Lecithin - nguyên liệu đa chức năng trong mỹ phẩm hiện đại

Lecithin là nhóm phospholipid tự nhiên có thể thu nhận từ đậu nành, hạt hướng dương, lòng đỏ trứng và nhiều nguồn sinh học khác. Thành phần lecithin thường chứa các phospholipid như phosphatidylcholine (PC), phosphatidylethanolamine (PE), phosphatidylinositol (PI), phosphatidic acid (PA), phosphatidylserine (PS) và một số phospholipid khác; tỷ lệ giữa các thành phần thay đổi theo nguồn nguyên liệu (Hình 1).

Hình 1. Thành phần phospholipid của lecithin thay đổi theo nguồn gốc thực vật, động vật và sinh vật biển

Điểm đặc trưng của lecithin là cấu trúc lưỡng tính: phần đầu phân cực ưa nước và hai đuôi acid béo kỵ nước (Hình 2). Nhờ đó, lecithin có thể tương tác đồng thời với pha nước và pha dầu, tạo điều kiện hình thành và ổn định nhũ tương. Trong mỹ phẩm, đặc tính này không chỉ hữu ích cho kem, lotion hay serum mà còn là cơ sở để lecithin tự sắp xếp thành các cấu trúc phospholipid dùng làm hệ mang hoạt chất.

 

Hình 2. Cấu trúc đặc trưng của lecithin/phospholipid

Lecithin trong ổn định hệ nhũ tương

Nhũ tương là hệ phân tán gồm hai pha lỏng không hòa tan vào nhau, điển hình là hệ dầu trong nước (O/W) hoặc nước trong dầu (W/O). Lecithin hoạt động như một chất nhũ hóa, giúp giảm sức căng bề mặt giữa hai pha và hỗ trợ tạo hệ phân tán đồng nhất. Việc lựa chọn lecithin và phối hợp với các chất ổn định khác có thể góp phần cải thiện độ bền, cấu trúc và thời gian bảo quản của sản phẩm.

Một ví dụ nổi bật được tổng hợp trong bài báo là hệ nhũ tương sử dụng lecithin đậu nành với curcumin. Độ hòa tan của curcumin trong nước ban đầu chỉ khoảng 0,59-0,60 µg/mL, trong khi trong hệ nhũ tương đạt 1026 µg/mL, tương đương tăng khoảng 1.700 lần. Hệ cũng cho thấy độ ổn định tốt trong khoảng nhiệt độ 25-80 °C và sau 30 ngày bảo quản ở 4 °C không ghi nhận biến đổi đáng kể về kích thước giọt, chỉ số PDI và thế zeta.

Từ chất nhũ hóa đến hệ dẫn truyền hoạt chất tiên tiến

Giá trị nổi bật của lecithin trong mỹ phẩm hiện đại nằm ở khả năng hình thành các hệ mang phospholipid; ba hệ tiêu biểu gồm liposome, transfersome và ethosome (Hình 3, Bảng 1). Các hệ này khác nhau về cấu trúc, thành phần và cơ chế xuyên qua hàng rào da.

Hình 3. Ba dạng hệ dẫn truyền phospholipid tiêu biểu: ethosome, transfersome và liposome

Bảng 1. Tóm tắt đặc điểm ba dạng hệ dẫn truyền phospholipid tiêu biểu: ethosome, transfersome và liposome

 

Hệ dẫn truyền

Cấu trúc chính

Đặc điểm

Khả năng xuyên da

Liposome

Phospholipid và nước

Túi phospholipid hai lớp, có thể bao gói hoạt chất ưa nước và ưa lipid

Phụ thuộc cấu trúc lipid; thấp hơn hai hệ còn lại

Transfersome

Phospholipid và chất hoạt động bề mặt

Màng phospholipid đàn hồi, có thể biến dạng khi đi qua khe hẹp

Cao nhờ tính linh hoạt của màng

Ethosome

Phospholipid và ethanol (20-45%)

Ethanol làm tăng tính linh động của màng và hỗ trợ thấm qua lớp sừng

Cao, hỗ trợ thấm sâu qua da

Liposome, transfersome và ethosome: những khác biệt đáng chú ý

Liposome được tạo bởi một hoặc nhiều lớp phospholipid bao quanh môi trường nước (Hình 4). Do có cấu trúc gần với màng tế bào, liposome có tính tương thích sinh học cao và có thể bao gói cả hoạt chất ưa nước lẫn ưa lipid. Các nghiên cứu được tổng hợp cho thấy liposome có thể cải thiện khả năng khuếch tán của hoạt chất qua da so với dung dịch hoạt chất tự do.

 

Hình 4. Cấu trúc và phân loại liposome theo kích thước và số lớp phospholipid

Transfersome là biến thể có màng phospholipid đàn hồi hơn nhờ sự hiện diện của chất hoạt động bề mặt thích hợp. Hệ có thể biến dạng khi đi qua những khoảng hẹp giữa các tế bào của lớp sừng nhưng vẫn duy trì cấu trúc túi, từ đó hỗ trợ vận chuyển hoạt chất vào sâu hơn.

Ethosome là hệ phospholipid có chứa ethanol. Ethanol làm tăng tính linh động của màng và hỗ trợ tương tác với lipid của lớp sừng. Trong nghiên cứu so sánh cả ba hệ đều cải thiện lượng hoạt chất xuyên da so với huyền phù nước; mức tăng được báo cáo lần lượt khoảng 200%, 650% và 900% đối với liposome, transfersome và ethosome. Ethosome cho hiệu quả xuyên da cao nhất và cao khoảng 3,5 lần so với liposome trong hệ được khảo sát (Hình 5). 

Hình 5. So sánh hình thái và khả năng xuyên da của liposome, transfersome và ethosome

Lợi ích đối với hàng rào bảo vệ và độ tương thích của da

Ngoài chức năng công nghệ, lecithin còn được quan tâm nhờ khả năng giữ ẩm, hỗ trợ hàng rào lipid và độ tương thích với da. Bài báo tổng hợp một nghiên cứu lâm sàng so sánh các chất hoạt động bề mặt dựa trên phosphatidylcholine với sodium dodecyl sulfate (SDS). Trong khi SDS làm tăng rõ rệt mất nước qua biểu bì (TEWL) và gây biểu hiện đỏ, sưng, các hệ dựa trên lecithin/phosphatidylcholine cho thấy khả năng tương thích với da tốt hơn trong điều kiện nghiên cứu.

Những đặc tính này cho thấy lecithin không chỉ đóng vai trò là tá dược nhũ hóa mà còn có tiềm năng góp phần duy trì độ ẩm, hàng rào bảo vệ và chất lượng cảm quan của sản phẩm chăm sóc cá nhân.

Triển vọng ứng dụng

Lecithin tiếp tục có tiềm năng trong các hệ dẫn truyền thế hệ mới như nanocarrier, hạt lipid rắn và niosome, hướng đến việc tăng độ ổn định của hoạt chất, kiểm soát giải phóng và cải thiện khả năng đưa hoạt chất qua da.

Một hướng phát triển khác là sản xuất lecithin theo định hướng bền vững, ưu tiên nguồn thực vật tái tạo như đậu nành và hạt hướng dương, đồng thời phát triển các phương pháp chiết không dung môi hoặc hỗ trợ bằng enzyme. Đây là hướng phù hợp với xu thế nguyên liệu tự nhiên, hóa học xanh và đổi mới công nghệ trong ngành mỹ phẩm.

Nguồn nội dung và hình ảnh: Thy L.T.M., Duy H.K., Dat N.M. (2025), Results in Surfaces and Interfaces, 19, 100543.

 

 

Chatbot Button Image